Whitefish và Icefish

Alaska pollack_Theragra chalcogramma

Whitefish

Whitefish là một thuật ngữ rộng chỉ đến một nhóm các loài cá thường sống ở đáy các nguồn nước như hồ, đại dương, ao, hay bể nuôi cá. Chúng có các đặc điểm để sống dễ dàng với đáy cát và mảnh vụn. Do sống gần với đáy các nguồn nước bên cạnh cát, các thành viên của nhóm cá này thường có cơ thịt khô và dễ bong thành mảnh khi nấu và ăn, đặc biệt khi so sánh với các loài cá sống gần bề mặt nước và có cơ thịt nhiều dầu. Một số loài cá thông thường thuộc nhóm này là cá cod, pollock và halibut.

Cod_Gadus morhua

Vì whitefish suy trì càng gần đáy các nguồn nước càng tốt, chúng thường được gọi là cá đáy ( bottom feeder ). Cá đáy dễ bị lộ ra trong nền cát, đá cuội và những mảnh vỡ lỏng lẻo khác. Để thích nghi với môi trường, cá đáy thực hiện một quá trình lọc bỏ các mảnh vỡ mà chúng ăn vào. Vì cá hút nước và các mảnh vỡ, cơ cấu thở bên trong của chúng – được biết là mang – lọc bỏ tất cả các thành phần không có nước ra khỏi cơ thể qua một cái khe.

Cod_Gadus ogac

Cá whitefish sống ở nhiều nguồn nước, như là sông, hồ, và đại dương. Chúng cũng sống ở các vùng địa lý khác nhau khắp thế giới, gồm cả bắc Mỹ, Á châu, Âu châu. Thức ăn của chúng gồm nhiều loại khác nhau tùy theo loài cá, nhưng có thể xếp từ ấu trùng của côn trùng cho tới những con cá nhỏ.

European pollock_Pollachius pollachius

Khi whitefish bị đánh bắt và bán làm thực phẩm, sự gần gũi với đáy nguồn nước của nó cung cấp một cơ cấu thịt đặc trưng khi nó được nấu nướng. Cá sống ở gần bề mặt nguồn nước thường có hàm lượng mỡ cao có thể làm nó không chịu đựng được nhiệt độ cao khi nấu nướng. Cơ thịt săn chắc của whitefish giúp nó phù hợp với nhiều phương pháp nấu nướng khác nhau, đặc biệt là khi chiên sâu trong dầu nóng.

Halibut_Hippoglossus hippoglossus

Kiểu cá này thường dùng nhất trong các công thức nấu nướng truyền thống Anh quốc, món cá và khoai tây chiên, cũng như là món que cá thương mại, vì chúng đủ săn chắc để giữ nguyên hình dạng và cho phép một lớp bột phủ hoặc bột bơ dính vào. Nó cũng được chế biến thành dạng chất đặc quánh và được tạo thành hình que và được bán như món giả thịt cua. Cá này cũng được dùng làm một thành phần thông thường trong các món ăn Do Thái truyền thống.

Icefish

Trematomus bernacchii Boulenger, 1902

Icefish là những con cá sống ở thềm lục địa Nam cực trong Đại dương nam. Về mặt khoa học, chúng được gọi là họ cá Notothenioidei. Icefish không được phát hiện ở một nơi nào khác, làm chúng trở thành những sinh vật đặc hữu. Trong toàn bộ khu vực này, icefish chiếm ưu thế nhất, tới 95% toàn bộ sinh vật biển.

Icefish thuộc bộ cá vược, bộ này gồm những loài cá có xương sống chiếm tới 40% tổng số cá. Có 6 họ cá riêng biệt và 43 giống khác nhau thuộc bộ cá này. Tổng số, có 122 loài cá icefish, tất cả đều sống ở Đại dương nam. Tuy nhiên, luôn luôn có những loài icefish mới được phát hiện.

Một thành phần độc đáo của Notothenioidei là nó có những protein lưu thông trong máu giúp chúng không bị đông lạnh trong vùng nước nam cực lạnh giá. Những con cá khác chỉ có thể sống sót trong vùng khí hậu nhiệt đới và ôn hòa và sẽ chết ở Đại dương nam. Khi nhiệt độ nước xuống thâp dưới điểm đông lạnh của máu, cá sẽ chết. Icefish có thành phần mà các nhà khoa học gọi là “ protein chống đông lạnh”. Những glycoprotein này kết hợp với các tinh thể băng tạo thành trong máu, ngăn cản các loài cá này chết.

Mặc dù đa số động vật sống trong vùng nhiệt độ giữa -20C và 40C, một số loài trong họ cá icefish có thể sống ở nhiệt độ cao hơn. Những mẫu cá của họ icefish đã được xác định vị trí ở Nam Mỹ và New Zealand, nơi nhiệt độ nước lên đến 100C. Nước mặc sẽ không kết đông cho đến khi nó đạt được 20C, điều này có nghĩa là động vật chết bên dưới nhiệt độ này mặc dù “ protein chống đông lạnh” của nó.

Icefish

Vì icefish không có bong bóng bơi, cơ quan chứa khí và cho phép cá nổi lên hay lặn xuống trong đại dương, icefish bị loại ra khỏi những loài cá sống đáy. Điều này có nghĩa là chúng thuộc dạng cá biển sâu. Tuy nhiên, một số loài cá điều chỉnh để thích nghi trong quá trình tiến hóa bằng cách tích tụ một lượng lớn hơn chất lipid, một dạng chất béo. Ngoài ra, icefish cũng đã mất đi một số cấu trúc xương và bớt đi độ đậm đặc xương của chúng. Điều này làm giảm trọng lượng, giúp chúng có khả năng kiểm soát việc bôi lội trong nước.

Icefish cũng độc nhất vô nhị trong trong việc sử dụng ô-xy trong máu. Đa số cá và động vật khác đòi hỏi 45% hemoglobin trong máu của chúng. Đây là chất kết hợp với ô-xy và cung cấp năng lượng cho động vật. Vì xu hướng chứa mức ô-xy cao trong thời tiết lạnh, nhiều loài cá icefish có chỉ 1% hemoglobin. Thay vì thế, ô-xy truyền vào máu trực tiếp bỡi huyết thanh.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

  • Biển và Người

    Bienvanguoi.wordpress.com 2011-2017 All Rights Reserved

    Founder: Ha Vinh Minh, Editor-in-chief: Doan Hoa

%d bloggers like this: