Thức ăn nuôi cá.

Trong cuộc đua tìm nguồn thay thế cho cá tự nhiên trong thức ăn nuôi cá, đậu nành đang dẫn đầu.

Rick Barrows sẵn sàng thét lên: “Eureka!”  sau hơn hai thập kỷ nghiên cứu tìm thành phần có nguồn gốc thực vật để thay thế bột cá trong thức ăn nuôi thủy sản. Nhà dinh dưỡng học và khoa học hàng đầu thuộc Sở nghiên cứu nông nghiệp trực thuộc Bộ Nông nghiệp Hoa kỳ ở Bozeman, Mont., tin tưởng rằng khoa học đã giải mã được điều bí ẩn về dinh dưỡng của việc cho cá nuôi ăn.

“Về mặt khoa học chúng tôi có thể loại bỏ bột cá cho thức ăn của bất cứ loài cá nào,” ông nói. “Vấn đề là làm sao chi phí sản xuất hiệu quả”.

Không phải một thành phần thức ăn nào thay thế được bột cá, nhưng sự kết hợp của đậu nành và chất cô đặc protein đậu nành, với bắp ( dạng gluten hoặc protein cô đặc) và lúa mạch đang dẫn đầu. Trong tương lai, thành phần tham gia có thể là tảo  – loài này có thể trồng với số lượng lớn cho sản xuất nhiên liệu sinh học – cùng với các loại men và vi khuẩn khác nhau.

Chi phí của các thành phần thức ăn, đặc biệt là bột cá và dầu cá, và đòi hỏi thủy sản bền vững đã khuyến khích việc nghiên cứu các thành phần mới. Xét về mặt toán học sẽ thấy rõ là việc tìm ra một thành phần thức ăn nuôi cá thân thiện môi trường, hiệu quả về mặt chi phí là mục tiêu tối thượng.

Giá cả của các thành phần thức ăn nuôi cá thông thường như bột đậu nành, bột cá, bắp, lúa mì và gạo tăng 50% kể từ năm 2005, theo một báo cáo của FAO năm 2009. Còn sự tăng giá của cá và các loại dầu khác? 250% một cách bất thường.

Bột cá và dầu cá được chế biến từ các loại cá nhiều dầu nhưng sản lượng đánh bắt đã khựng lại. Sản lượng bột cá toàn cầu đạt đến đỉnh điểm vào năm 1992 với 30,2 triệu tấn, theo FAO, và không có dấu hiệu giá cả sẽ giảm xuống.

Thức ăn chiếm phân nửa chi phí nuôi trồng thủy sản.

Ngành nuôi cung cấp 50% lượng cá tiêu thụ và đang tăng lên nhanh chóng. Ngành này đang chịu áp lực tăng lên 70% nữa vào năm 2050 để cung cấp cho dân số toàn cầu dự tính lên đến 9 tỷ người.

Là những nhà khoa học, những người lập công thức thức ăn và các công ty nuôi thủy sản định giá mỗi thành phần của thức ăn, họ xem xét tỷ lệ tăng trưởng của cá, sự tiêu hóa và lượng a xít béo omega-3 cùng với chi phí của từng thành phần, dấu vết môi trường và việc tìm nguồn cho nó có đặt áp lực lên các nhà cung cấp thực phẩm hay không.

Sau hàng thập kỷ tham gia tập thể để giải quyết vấn đề, giây phút vui mừng mà Barrows hình dung vẫn còn lảng tránh.

“Tôi không nghĩ đã có những thành công trong bất kỳ nguyên liệu cụ thể nào”, Richard Nelson, giám đốc mua hàng, tài chính và kiểm soát của công ty Nelson and Sons, ở Tooele, Utah, là nhà sản xuất thức ăn cá nhãn hiệu Silver Cup và được sở hữu bởi công ty Nutreco, nhà sản xuất thức ăn động vật có trị giá 7 tỷ đô la, đã nói. “Tôi nghĩ điều thực tế đó chính là sự kết hợp của những sản phẩm tốt và tốt hơn”.

Đậu nành đang dẫn đầu, Nelson nói. “Đậu nành đang có nhiều hứa hẹn cho đến nay và có được sự hỗ trợ lớn nhất của các tập đoàn công nghiệp”.

Vào năm 2009, protein đậu nành đã được dự đoán gia tăng từ đáp ứng 1/3 nhu cầu protein nuôi trồng thủy sản  tới cung cấp 1/2 nhu cầu toàn cầu vào năm 2020, theo Ủy ban xuất khẩu đậu nành Hoa kỳ. Doanh số bán protein đậu nành cô đặc, chiếm 1/3 trị giá bán của protein đậu nành, dự tính đạt tới 4,7 tỷ đô la vào năm 2020.

Nhưng đậu nành không phải không có thách thức.

Bột đậu nành là thành phần thức ăn chính của cá catfish và cá rô phi nuôi. Nhưng với cá hồi nước lạnh, một số carbohydrate trong bột đậu nành ngăn cản quá trình tiêu hóa. Protein đậu nành cô đặc sẽ có hiệu quả tốt hơn, Nelson nói, nhưng nó là một loại thực phẩm, tương tự như loại dùng trong thực phẩm cho người, và có thể có giá cao gấp 3 lần so với bột đậu nành.

Nelson muốn thấy một dạng mới của protein đậu nành cô đặc giải quyết được vấn đề tiêu hóa cho cá hồi nuôi nhưng không phải là loại thực phẩm cho người, để nó có thể được sản xuất với số lượng lớn giữ cho chi phí hợp lý đối với các nhà chế biến thức ăn thủy sản.

Protein đậu nành cô đặc là một trong những thành phần chính trong công thức thức ăn mới đang được thử nghiệm tại công ty Clear Springs Foods.

Các loài cá nước lạnh như cá hồi phát triển bằng cách ăn các loài cá nhỏ hơn và chất béo nước mặn – không phải thực vật sống trên mặt đất – và có hệ tiêu hóa ngắn hơn, điều đó làm cho chúng khó tiêu hóa carbohydrate hơn. Các loài cá nước ấm như cá catfish và rô phi là những loài ăn thực vật. Chúng có hệ tiêu hóa dài cho phép chúng tiêu hóa tốt hơn carbohydrate trong thực vật, Barrows cho biết.

Đó là lý do tại sao thức ăn cho cá hồi tiêu chuấn trong năm 2010 vẫn là 25% bột cá (giảm từ 35% vào năm 2002) và thức ăn cho cá rô phi tiêu chuẩn là 3% (giảm từ 5% vào năm 2002), theo Tổ chức dầu cá và bột cá quốc tế, hiệp hội thương mại toàn cầu những nhà sản xuất dầu cá và bột cá.

“Thật khó để nhận diện bất cứ thành phần thay thế đặc biệt nào đang “ dẫn đầu “”, Randy MacMillan, Phó chủ tịch phụ trách nghiên cứu của Clear Springs, nói. “Lúc này tất cả đều có tiềm năng”.

Với điều kiện trong phòng thí nghiệm mà MacMillan nói không phù hợp với môi trường sản xuất thủy sản thực tế của thế giới, cá hồi được nuôi bằng một loại thức ăn thử nghiệm không có bột cá nhưng có chứa bột thịt gà, bột đậu nành và protein lúa mạch cô đặc được thực hiện ở mức độ tương đương với thức ăn bột cá, MacMillan nói.

Nhưng – ít nhất là đối với cá hồi – nhiều việc thử nghiệm vẫn phải tiến hành trước khi vấn đề được giải quyết, MacMillan kết luận.

Lisa Duchene

About these ads

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

  • Biển và Người

    Bienvanguoi.wordpress.com 2011-2014 All Rights Reserved

    Thành lập bỡi Hà Vĩnh Minh và một số cộng tác viên

%d bloggers like this: